HIẾU THẢO CÁI GỐC CỦA ĐẠO LÀM NGƯỜI VÀ SỨC MẠNH CỦA VĂN HÓA VIỆT
Từ thuở xa xưa, các bậc hiền triết phương Đông đã đặt chữ Hiếu lên vị trí đầu tiên trong các mối quan hệ xã hội. Khổng Tử dạy: Hiếu và Đễ chính là cái gốc của đạo làm người. Trong Hiếu Kinh, chữ Hiếu được luận giải sâu sắc và toàn diện: từ việc phụng dưỡng thể chất cha mẹ – dưỡng thân cho cha mẹ; đến những lời nói, hành động khiến cha mẹ an lòng – dưỡng tâm cho cha mẹ; và cao nhất là lập thân hành đạo, sống có giá trị, làm rạng danh tổ tiên – dưỡng chí cho cha mẹ.
Đối với người Việt, đạo Hiếu được tiếp thu và bồi đắp thêm bằng tinh thần nhân văn, ấm áp, gắn liền với lòng biết ơn. Làm con thì phải hiếu, nhưng đạo lý ấy không cứng nhắc theo khuôn phép khắc nghiệt, mà thấm đẫm tình yêu thương và sự thấu hiểu của con cái đối với những nhọc nhằn, vất vả một đời của cha mẹ vì mình.
Ca dao, tục ngữ Việt Nam chính là kho tàng minh chứng sinh động cho tinh thần ấy.
“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”;
hay “Cha mẹ nhận một đời bão tố,
Để cho con mãi mãi bình yên”… đã khắc họa công ơn trời biển của đấng sinh thành.
“Con có cha như nhà có nóc”,
“Trẻ cậy cha, già cậy con”,
“Đói lòng ăn quả chà là,
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”… là những lời nhắc nhở sâu sắc về bổn phận báo hiếu của con cái.
Người xưa đã đúc kết: “Trăm nết hiếu là nết đầu”, “Bách thiện hiếu vi tiên”. Hiếu đạo trở thành thước đo phẩm giá, là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá một con người, rồi sau đó mới xét đến tài năng: “Trung thần xuất thân từ người con hiếu hạnh”.
Trong văn chương, hình ảnh người con hiếu thảo luôn được trân trọng và tôn vinh. Từ Chử Đồng Tử – vì lòng hiếu mà nhường khố cho cha, trở thành biểu tượng hiếu đễ của dân tộc; đến Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương – hình mẫu người con dâu hiếu thuận, đức hạnh. Những hình tượng ấy đã góp phần bồi đắp nên hệ giá trị nhân văn sâu sắc, viết tiếp mạch nguồn văn hóa truyền thống tốt đẹp nghìn năm của dân tộc Việt Nam.

